|
|
Any concerns or questions, just contact me at any time. You are welcome to get me online by:
.................................................

vietnam_leafpaintings
.................................................

.................................................
leafpaintings@giahoco.com
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|
Tranh dân gian Việt Nam |
Tranh dân gian Việt Nam |
|
|
|
Tranh
dân gian Việt Nam có lịch sử rất lâu
đời, đã từng có thời gian phát triển
rất mạnh mẽ, ngày nay nó có phần
giảm sút nhưng vẫn còn được giữ gìn
bảo tồn trong một số
làng nghề và một số gia đình làm
tranh. Về cơ bản có hai loại tranh
chính là
tranh Tết và
tranh thờ. Sở dĩ tranh dân gian
Việt Nam xuất hiện rất sớm là bởi vì
nó với hai loại chính là tranh tết
và tranh thờ xuất hiện gần như cùng
lúc với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của
người Việt và việc thần thánh
hóa các hiện tượng tự nhiên.
Vào
thời
nhà Lý (thế
kỷ 12) đã bắt đầu xuất hiện
những gia đình hay thậm chí là cả
một
làng chuyên làm khắc ván, làm
tranh. Đến cuối đời
nhà Trần nhiều nơi đã in được
tiền giấy (là một cách thể hiện
của tranh dân gian) và sang đời
nhà Hồ tiền giấy đã được phát
triển mạnh.
Tời
thời kỳ
Lê sơ việc in khắc tranh đã được
tiếp thu thêm kỹ thuật khắc ván in
của
Trung Quốc và sau khi vào Việt
Nam đã được cải tiến thêm cho phù
hợp. Cùng với đó là sự phân hoá của
tranh dân gian xuất hiện ngày càng
rõ nét.
Đến
đời
nhà Mạc (thế
kỷ 16) một thay đổi đặc biệt đã
xảy ra, tranh dân gian không còn là
sản phẩm riêng của những người nông
dân nghèo khó nữa, mà đã được cả
tầng lớp
quý tộc ở kinh thành
Thăng Long ưa thích, thường sử
dụng vào dịp
Tết Nguyên Đán.
Sang
thế kỷ 18 -
19, tranh dân gian đã dần đi vào
giai đoạn ổn định và phát triển mạnh
mẽ.
Nghề làm tranh đã lan truyền
rộng rãi hầu khắp cả nước. Cùng với
đó là sự phân hóa, những dòng tranh
mới xuất hiện, được gọi tên theo địa
danh nơi sản xuất, đã có những phong
cách riêng của mình. Nét riêng của
mỗi dòng tranh được thể hiện ngay từ
quy trình làm tranh cũng như trong
mỗi đường nét của tranh. Đó là sự
khác biệt giữa kỹ thuật khắc ván in,
kỹ thuật vẽ, nguyên liệu làm tranh,
cách pha chế tạo màu sắc riêng...
 |
Tranh Đông Hồ,
hay tên đầy đủ là
tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là
một dòng
tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ
làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
Trước kia
tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp
Tết Nguyên Đán, người dân
nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết
năm lại lột bỏ, dùng tranh mới. Thơ Tú Xương
về tranh Đông Hồ ngày Tết có câu:
-
Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột
-
Om sòm trên vách bức tranh gà
|
Xem
tiếp
|
 |
Tranh Hàng Trống một trong những dòng
tranh dân gian Việt Nam được làm chủ yếu tại phố Hàng Nón, Hàng Trống
của
Hà Nội
xưa. Hàng Trống xưa kia thuộc đất cũ của thôn
Tự Pháp, tổng Tiêu Túc (sau đổi thành Thuận Mỹ), huyện
Thọ Xương, nay thuộc
quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Phố Hàng Trống nằm kề các phố Hàng Nón, Hàng Hòm,
Hàng Quạt... là nơi chuyên sản xuất cả đồ
thủ công mỹ nghệ nhất là đồ thờ như : tranh thờ, trống, quạt, lọng, cờ...
Dòng tranh này hiện nay gần như đã bị mai một hết, chỉ còn lưu giữ trong các
viện bảo tàng. Chính vì vậy, những nghệ nhân vẽ tranh Hàng Trống giảm
hẳn. Hiện, chỉ còn duy nhất nghệ nhân
Lê Đình Nghiên còn gắn bó với nghệ thuật tranh Hàng Trống và những nét
tinh hoa của dòng tranh này. |
Xem
tiếp
|
 |
Tranh Kim Hoàng là tên thường gọi của một dòng
tranh dân gian phát triển khá mạnh từ
thế
kỷ 18 đến
thế
kỷ 19 của
làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện
Hoài
Đức, tỉnh
Hà Tây.Tương truyền, dòng họ làm tranh đầu tiên là dòng họ Nguyễn Sĩ người Thanh
Hoá theo mẹ ra
Thăng
Long rồi lập nghiệp ở làng Kim Hoàng.
Thế
kỷ 19, tranh Kim Hoàng phát triển mạnh, nhưng rồi bắt đầu bị thất truyền
từ trận lụt năm 1915, khi làng mạc từ Phùng đến Cầu Giấy bị ngập trắng,
nhiều ván in tranh của làng bị cuốn trôi. |
Xem
tiếp
 |
Tranh làng Sình là một dòng
tranh dân gian Việt Nam. Đây là dòng
tranh mộc bản được sử dụng phổ biến ở cố đô Huế với mục
đích cúng lễ.
Tranh làng Sình khác với
tranh Đông Hồ (Bắc
Ninh),
tranh Hàng Trống (Hà
Nội) bởi chức năng duy nhất là phục vụ thờ cúng, cúng xong là đốt. .
|
Vì
vậy, đến nay chỉ còn những bản khắc gỗ là hiện vật quý giá còn lưu giữ được
ở nhà ông Kỳ Hữu Phước - một nghệ nhân làm tranh lâu năm ở làng Sình
|
Xem
tiếp
|
 |
|
 |
|
Mona Lisa |
Leonardo da Vinci
khoảng 1503–1507 |
|
sơn
dầu trên gỗ (bạch dương) 77
× 53 cm |
|
Bảo
tàng Louvre |
|
| |
Mona Lisa
(tiếng Ý của "Bà Lisa";
tiếng Tây Ban Nha: La
Gioconda; tiếng Pháp:
La Joconde) là
bức tranh sơn dầu nổi tiếng
của hoạ sĩ người Ý Leonardo
da Vinci, một trong những
hoạ sĩ nổi tiếng nhất trong
lịch sử hội hoạ thế giới.
Hiện bức tranh này được lưu
giữ tại bảo tàng Louvre,
Pháp.
Bí ẩn nụ cười Mona Lisa
Bức
tranh nàng Mona Lisa của
Leonardo da Vinci đã tạo cảm
hứng cho rất nhiều nhà phân
tích, từ nghệ thuật tới khoa
học, từ phân tích quang học
tới phân tích tâm lý học,
hình thành hình ảnh "nụ cười
Mona Lisa" trong văn học,
đại diện cho một cái gì đó
rất bí ẩn.
Khuôn mặt nàng Mona Lisa
trong tranh khiến người ta
không thể đoán định rằng
nàng có đang cười hay không.
Nhìn riêng đôi mắt, bạn sẽ
thấy ánh lên rất nhiều ý vui,
ý lạc quan, yêu đời.Nhưng
nhìn thấp xuống khoé miệng,
đôi môi, ta lại thấy nàng
nghiêm nghị đến kỳ lạ. Trong
cái miệng đó, ta lại thấy rõ
sự hồi hộp, lo lắng trong
cái nhếch mép cười. |
|
|
Bộ mặt
Mona vừa cười, vừa nghiêm nghị
đã trở thành đề tài bàn cãi
trong rất nhiều các cuộc khẩu
chiến và bút chiến.
Nhà sinh
học thần kinh Margaret
Livingstone của Đại học Harvard
(Hoa Kỳ) cho rằng đó là do bản
thân cảm xúc thị giác người xem:
"Mỗi khi nhìn, bạn nhìn những
chấm riêng rẽ, nhưng thị giác
ngoại biên thì tập hợp chúng lại
với nhau và trộn lẫn màu sắc, vì
thế bạn chuyển động mắt chung
quanh và tạo nên những thay đổi
trong khi nhìn".
Christopher Tyler và Leonid
Kontsevich của Viện nghiên cứu
mắt Smith-Kettlewell ở San
Francisco (Hoa Kỳ) đã điều chỉnh
một bức ảnh kỹ thuật số được
chụp lại từ bức tranh này, bằng
cách bổ sung vào đó các nhiễu
loạn thị giác – giống như những
vết nhiễu trên một kênh tivi kém.
Sau đó, họ yêu cầu 12 người quan
sát đánh giá cảm xúc của nhân
vật trên tranh, phân theo 4 bậc,
từ buồn rầu tới hạnh phúc. Kết
luận: hệ thống thị giác của
chúng ta bị nhiễu bởi nhiều
nguồn, như: số lượng photon ít
nhiều đập vào các tế bào cảm
nhận ánh sáng trong mắt, hoạt
động sai lệch ngẫu nhiên của các
sắc tố hấp thụ photon, và sự loé
sáng ngẫu nhiên của các nơron có
nhiệm vụ mang tín hiệu thị giác
tới não.
|
|
|
|
|
|
|
|